Luật

Tứ Diệu Đế (Phần II) – Tập Đế – HT Giới Đức – Khổ-Khổ Hành-Khổ Hoại-Khổ, Tịch Tịnh Vô Vi…



HT Giới Đức ôn Khổ Đế và giảng Tập Đế: khổ khổ, hành khổ, hoại khổ; tịch tịnh vô vi; hạnh tu Nhĩ Căn Viên Thông của bồ tát Quán Thế Âm; vô minh ái dục; 5 triền cái và hoả trạch vào 2 tháng 4, 2020, tại HKST.

Nguồn: YouTube Ngoạ Tùng Am

– Tứ Diệu Đế chỉ cho thấy bản lai vô ngã.
– Thơ của HT Giới Đức:
Núi rừng chẳng tu chẳng chứng
Mây chiều nắng sớm như nhiên.
Thân tâm chẳng tu chẳng chứng
Ngắm nhìn khổ lạc như như.
– Thân tâm được tác động bởi những quy luật tự nhiên trong trời đất. Sự thưởng ngoạn khổ lạc khi 6 căn tiếp xúc với 6 trần là định luật vận hành tự nhiên của pháp, vậy mà la tôi khổ, tôi lạc, rồi tu tập để trừ khổ được lạc, đó là vọng tưởng.
– Khổ Đế gồm:
*Khổ khổ: muốn diệt khổ thì sân khởi, tạo thêm khổ mới.
*Hành khổ: Khi không khổ không lạc thì nhàm chán, muốn tạo tác để thoả mãn.
*Hoại khổ: Khi đang có lạc thì sợ mất nó, tạo thành khổ.
– Dầu là lạc vi tế thì cũng sinh diệt, hữu vi hữu ngã, nhưng nếu đến chỗ vô vi, vô hành (“tâm lúc nào cũng an trú nơi cõi tịnh cư thiên” mà Phật khen các tỳ khưu) thì lạc thuần tịnh đến tự nhiên theo định luật vận hành của pháp.
– Ông Osho nói niết-bàn là cơn ác mộng vì NB là tịch tịnh vắng lặng tham sân si, nhưng ta quên bình thường tâm hiện tại, đi tìm & thoả mãn cái gì đó, tìm khái niệm NB trong kinh điển, tưởng tượng NB đủ kiểu, và tu tập để đạt NB. Xem kinh Bāhiya để thấy cơn đại mộng này (X) (Ud 6):
– 3 tháng cuối, Thầy không tu định, tu tuệ chỉ để yên thì định tuệ tự xuất hiện, không phải từ bản ngã mà từ định luật của pháp. Tịch tịnh vô vi là trạng thái để yên thân tâm (vô vi/vô cầu/vô tác/vô hành), không khởi lên tu chứng (không khởi tư tác theo tư dục), cái này đức Phật nói là làm xong mọi phận sự, quẳng gánh nặng bản ngã trên vai xuống.
– Tịch tịnh có 2 giai đoạn: Đầu tiên là dụng công hữu vi tu tập (có phước báu), sau đó là để yên thân tâm vô vi (mới giải thoát). Tịch tịnh chưa đủ mà phải tỉnh giác hiện tiền khi 6 căn tiếp xúc 6 trần.
– Thầy Viên Minh ngồi máy bay lên xuống bị đau tai, dùng định tâm sáng suốt đối trị, nhưng có lần đau quá chịu không nổi, đành để yên chịu trận thì lát sau không còn đau. Qua đó thầy VM giải mã được đoạn văn trong Kinh Lăng Nghiêm mà Phật hỏi bồ tát Quán Thế Âm tu tập thế nào thì Ngài trình bày:
*Sơ y văn trung (ban đầu dựa vào cái nghe; trọn vẹn với đối tượng)
*Nhập lưu vong sở (vào dòng thì đối tượng mất)
*Sở nhập ký tịch, động tịnh nhị tướng, liễu nhiên bất sanh, như thị tiệm tăng (khi đối tượng lặn vào cái nghe thì tướng động & tướng tịnh không khởi, và cứ thế tiến dần; bình tâm với đau tai, vào được cận định)
*Văn sở văn tận, tận văn bất trụ (khi cái nghe & đối tượng nghe đều dứt, đừng trụ vào đây; khi tâm ổn định chớ kẹt để qua minh sát)
*Giác sở giác không, không giác tịch viên, không sở không diệt (ngay nơi cái biết & đối tượng biết yên lặng thì ý niệm năng không, sở không diệt luôn; chánh niệm tỉnh giác đúng mức thì thấy đối tượng đúng thực tánh cùa nó mà đừng trụ vào tánh giác vì ý niệm chủ quan sẽ liền khởi)
*Sinh diệt ký diệt, tịch diệt hiện tiền (diệt luôn ý niệm diệt thì ngay đó là niết-bàn). Ngài dạy ta lắng nghe bằng tuệ giác như thật, quán sát toàn bộ duyên khởi thân thọ tâm pháp đang là, đó là Vipassanā.
– Hỏi: Có người tìm lạc & ở trong đó, cảm nhận lạc đó tự nhiên, được phải không? Đáp: Nói vậy là biện hộ vì tìm lạc là dục ái, mà dục ái khởi thì đối tượng sẽ khác, không như thực tướng của nó. Khi ta thọ lạc tại đây không do tìm kiếm & tham sân si chi phối thì lạc đó là tự nhiên. Câu hỏi này trùng hợp với “Câu Chuyện Dòng Sông,” trong đó Tất Đạt rất đỗi kính ngưỡng Thế Tôn nhưng dấn thân vào đời để va chạm, trải nghiệm. Cuối cùng Tất Đạt biết mình bị bản ngã đánh lừa & trở lại bên dòng sông, lắng nghe dòng sông thân thọ tâm pháp trôi chảy sinh diệt theo duyên khởi, và phát hiện tâm thức vắng bặt bản ngã.
– Tập Đế gồm:
*Vô minh: không thấy thân-thọ-tâm-pháp như nó đang là, nên sinh ưa ghét, lấy bỏ, tạo tác.
*Ái dục: Dục ái (si, lăng xăng tạo tác, tạo ra hành-khổ; cõi dục giới), Hữu ái (tham, muốn nắm giữ lạc, tạo ra hoại-khổ; cõi sắc giới), Phi Hữu ái (sân, muốn loại trừ khổ, tạo ra khổ-khổ; cõi vô sắc giới)
– 5 triền cái gồm:
*Tham dục: ham muốn 5 dục (dùng Nhất Tâm chế ngự)
*Sân hận: đối kháng điều bất như ý (Hỷ)
*Hôn trầm thuỵ miên: sự trì trệ của tâm & mệt mỏi của thân (Tầm)
*Trạo hối: trạo cử là phóng tâm & hối quá là ray rứt về sai lầm (Lạc)
*Nghi hoặc: do dự, phân vân (dùng Tứ)
– Nhắc lại câu hỏi: Có vị thầy khuyên ngồi thiền thì mở mắt để khỏi hôn trầm, con cảm thấy không đúng mà không biết tại sao? Đáp: Hôn trầm là sự mệt mỏi của tâm, và thuỵ miên là mệt mỏi của thân. Nếu hôn trầm mà mở mắt thì cũng không tỉnh táo vì gốc ở tâm, chứ không phải ở thân; vì vậy phải dùng chi pháp Tầm đối trị, đánh thức tâm chú hướng & bám sát đối tượng.
– Tam Giới bất an do như hoả trạch (ngôi nhà lửa của tham sân si phiền não khổ đau luôn thiêu đốt chúng sanh). Tự soi chiếu lại, sao mình tu kiểu chi cũng vô nhà lửa?!

Nguồn: https://bannhadian.com.vn

Xem thêm bài viết khác: https://bannhadian.com.vn/luat/

Leave a Comment

Your email address will not be published.

You may also like